Showing posts with label Java Core. Show all posts
Showing posts with label Java Core. Show all posts

Tuesday, January 17, 2017

[Java] Giới thiệu về Generic và Annotation

Chào các bạn, hôm nay mình sẽ giới thiệu về kỹ thuật Generic và Annotation trong java.
Cả hai kỹ thuật này đều được thêm vào từ Java 5.

Generic

  1. Về generic:
    1. Là một feature được thêm vào từ Java 5.0 
    2. Generic thể hiện tính trừu tượng trong Java, bản thân generic cũng có thể kế thừa hoặc được kế thùa từ một kiểu dử liệu khác. 
    3. Generic mô tả một cách trừu tượng class sẽ được sử dụng trong class hay method. 
    4. Mục đích của nó: Cung cấp tính an toàn về kiểu trong thời điểm biên dịch. 
    5. Generic được sử dụng trong: Class Generic, Method Generic,Interface Generic.
  2. Generic giúp giải quyết?

    1. Giúp bộ dịch xác minh được kiểu dữ liệu. 
    2. Bộ dịch sẽ biết chính xác cần phải ép kiểu thể nào.
Annotation:
  1. Một số bài toán:
    1. Bài toán của Hibernate: đây là một frame làm việc với database thông qua việc mapping object. Từ Java Bean phải mapping qua bảng tương ứng với database. Sau đó hibernate sẽ chuyển thành các câu lệnh SQL tương ứng và thực thi. Nhưng không phải lúc nào các trường này được ánh xạ chính xác với database nên ta phải mô tả code. 
    2. Trước khi annatotion ra đời, để biểu diễn meta data cho một class, property, method developer phải sử dụng XML, Properties, Comment. Đến java 5 Sun thêm vào cái gọi là annotation.
  2. Annotation là gì:
    1. Là một feature được thêm vào từ Java 5.0
    2. Là một dạng meta data đặc ta cho một đối tượng hoặc một method hay là một property mà bạn có thể thêm vào Java Code. 
    3. Mục đích:
      1. Chỉ dẫn cho trình compiler 
      2. Chỉ dẫn Build-time 
      3. Chỉ dẫn trong thời điểm Runtime.
  3. Annatotion: chỉ dẫn cho trình compiler?
    1. Java cung cấp sẵn một số annotation thường gặp như: 
      1. @Override 
      2. @Deprecated 
      3. @SuppressWarnings
      4. @SafeVarargs 
      5. @Documented. 
    2. Để tự tạo ra các chỉ dẫn để trình compiler có thể hiểu được thì sử dụng Annotation processing tool. (APT)
  4. Annatotion: chỉ dẫn Build-time?
    1. Annotation được sử dụng trong lúc build-time để tạo ra các mã nguồn, biên dịch mã nguồn, tạo ra các file XML. Xây dụng các tool tự động. 
    2. Ví dụ như tool Hiberate: đọc database sẽ tự động build thành các class, xml tương ứng.
    3. Thông thường sau khi biên dịch thì các annotations không có mặt trong mã Java. Tuy nhiên vẫn có thể sử dụng reflection để đọc các annotations lúc run-time. 
    4. Để làm việc nay thì thiết lập như sau: 
      1. @Retention(RetentionPolicy.RUNTIME)
Đây là 2 kỹ thuật nâng cao của Java mà bất kỹ Senior Java nào cũng phải biết. 
Hy vọng với bài viết này bạn sẽ có thể hình dung tổng quát và hiểu được khái niệm Generic và Annotation cũng như trường hợp sử dụng chúng.
Với bài viết sau, tôi sẽ có bài toán cũng như ví dụ cụ thể về 2 kỹ thuật này.

Sunday, January 15, 2017

[Design Pattern] Singleton trong java và swift


Mẫu thiết kế singleton:
Nó là gì?
Mẫu thiết kế singleton đảm bảo chỉ duy nhất môt thực thể của một class được tạo ra và nó sẽ cung cấp cho bạn một phương thức để truy cập đến thực thế đó.
Kiểm soát việc tạo ra các thực thể nhưng có thể lấy ra thực thế.
Dùng nó trong trường hợp nào?
Khi bạn tạo ra một class mà bạn chỉ muốn chỉ có duy nhất một thực thể là thể hiện của class đó và bạn có thể truy cập đến nó ở bất kỳ nơi đâu khi bạn muốn.
Ví dụ như : Khi bạn tạo ra một class làm việc với file, config ,class lưu collection dùng chung, hoặc database . Bản chỉ cần duy nhất một thực thể của class đó và bạn sẽ sử dụng nó ở bất kỳ nơi đâu.
Dùng nó như thế nào?
Đầu tiên tôi tạo ra một class với tên là Database. Để không class nào có thể khỏi tạo nó (đảm bảo duy nhất có một thực thể) tôi sẽ private contructor của class trên.
  1. In Java
  2. public class Database{
  3.     private Database();
  4. }
  5. In Swift
  6. class Database{
  7.     private init();
  8. }
Và tạo một thuộc tính có tên là INSTANCE có kiểu Database  và một phương trả về thuộc tính đó. Để các class khác có thể sử dụng phương thức này, tôi thêm từ khóa static để biến phương thức này thành phương thức của lớp.
  1. In Java
  2. private Database INSTANCE;
  3. public static Database getInstance(){
  4.    if(INSTANCE == null){
  5.       INSTANCE = new Database();
  6.    }
  7.    return INSTANCE;
  8. }
  9. In Swift
  10. var Database sharedInstance;
  11. class func getInstance() -> Database { 
  12.    if(sharedInstance == nil) { 
  13.       sharedInstance = Database() 
  14.    } 
  15.    return sharedInstance 
  16. }
Như trên tôi kiểm tra xem INSTANCE có bằng null hay không. Nếu bằng null thì tôi tạo một đối tượng. Và trả về INSTANCE.
Có một vấn đề xảy ra. Nếu có hai luồng (thread) chạy song song và thực hiện hàm if thì sẽ có 2 thực thể được tạo ra. Để tránh trường hợp này mình thêm từ khóa synchronized. Khi hàm getInstance đã được chạy thì bất kỳ các luồng khác phải đợi hàm này chạy xong mới gọi được.

  1. public static synchronized Database getInstance(){
  2.    if(INSTANCE == null){
  3.      INSTANCE = new Database();
  4.    }
  5.    return INSTANCE;
  6. }
Ok đến đây đã khá ổn nhưng sử dụng từ khóa synchronized đồng nghĩa với việc các luồng có thể phải đợi chờ lâu vì phải đợi luồng đang gọi hạm getInstance chạy xong mới gọi được. Để tránh trường hợp này, tôi sẽ tạo 1 thực thể của lớp Database ngày khi class này được sử dụng, và sử dụng từ khóa final để ngăn không cho thay đổi đối tượng mà INSTANCE trỏ đến  :

  1. In Java:
  2. private static final Database INSTANCE = new Database();
  3. In Swift
  4. static let sharedInstance = Database()
Lúc này hàm getInstance sẽ trả về đối tượng INSTANCE:
  1. In Java:
  2. public static Database getInstance(){
  3.    return INSTANCE;
  4. }
  5. In Swift
  6. class func getInstance() -> Database { 
  7.    return sharedInstance 
  8. }
Để truy cập đến thực thể của class Database bạn thực hiện : Database.getInstance() lúc này trả về 1 thực thể có kiểu Database.
Với swift ta làm như sau:

OK ! Đến đây bạn có thể chắc chắn rằng sẽ chỉ có duy nhất một thực thể của class Database được tạo ra và bạn có thể sử dụng hàm getInstance để truy cập vào thực thế đó. Việc còn lại là bạn viết các phương thức, các setter, getter cho nó. Đây chính là mẫu thiết kế singleton.

Thursday, January 5, 2017

Java Core - Enum Types


Enum là một kiểu dữ liệu đặc biệt, nó cho phép chứa tập hợp các biến hay còn gọi là kiểu dữ liệu liệt kê. Vậy tại sao lại có kiểu dữ liệu enum và nó sẽ giúp chúng ta như thế nào.
Mình sẽ lấy vị dụ như sau : Trong game thường có các vật phẩm tăng gold hay exp sau mỗi màn đánh. Mình định nghĩa một enum như sau :

  1. public enum EffectItem {
  2. EXP,GOLD;
  3. }
Ok vậy là ta có có một tập hợp các hiệu ứng khi sử dụng vật phẩm là tăng gold và exp. Nhưng ta vẫn chưa định nghĩa tăng bao nhiêu cả.Ta làm như sau:

  1. public enum EffectItem {
  2. EXP(20),GOLD(30);
  3.         private int value;// khai báo một biến value.

  4. EffectItem(int value) { //một contructor với tham số value
  5. this.value = value;
  6. }

  7. public int getValue() {//hàm lấy ra giá trị value
  8. return this.value;
  9. }
  10. }
Nhìn có vẻ đây là một class thực sự với thuộc tính value và contructor với đầu vào int. Còn dòng 2 như các thực thể được khởi tạo vơi các giá trị cụ thể 20,30.

Một vấn đề nữa, tôi muốn với mỗi giá trị của item ta sẽ có một mô tả tương ứng. Ta làm như sau:
  1. public enum EffectItem {
  2. EXP(20),GOLD(30);
  3.         private int value;// khai báo một biến value.

  4. EffectItem(int value) { //một contructor với tham số value
  5. this.value = value;
  6. }

  7. public int getValue() {//hàm lấy ra giá trị value
  8. return this.value;
  9. }
  10.         
  11.         public String getString() {// với mỗi giá trị của enum sẽ có mô tả tương ứng.
  12. switch (this) {
  13. case EXP:
  14. return "Tang EXP 20%";
  15. case GOLD:
  16. return "Tang EXP 30%";
  17. default:
  18. return "";
  19. }
  20. }
  21. }

Đến đây ta đã cơ bản tạo xong một enum. Vậy sử dụng nó như thế nào?
 - Vì enum là một kiểu dữ liệu vì vậy ta khai báo một thuộc tính của class cần dùng như sau:

  1. public class Item {
  2. private String name;
  3. private EffectItem effect;

  4. public Item(EffectItem effect) {
  5. this.effect = effect;
  6. }

  7. public String getName() {
  8. return name;
  9. }

  10. public void setName(String name) {
  11. this.name = name;
  12. }

  13. public EffectItem getEffect() {
  14. return effect;
  15. }

  16. public void setEffect(EffectItem effect) {
  17. this.effect = effect;
  18. }
  19. }
Sử dụng phương thức effect.getValue() để lấy ra giá trị của enum và  effect.getString() để có được mô tả.
Ngoài ra, bản thân enum có một class mô tả nó với các phương thức và thuộc tính. Ví dụ như:  values() : trả về tập 1 mảng chứa cả các giá trị của enum. Ta có thể dùng vòng foreach để duyệt.

Done. Mong bài viết sẽ có ích với các bạn :D

Monday, July 18, 2016

Refactoring - Tái cấu trúc mã nguồn - Giới thiệu

Hôm nay mình xin giới thiệu một "kỹ thuật" khá quan trọng là Refactoring. Vậy nó là gì ?

- Theo mình hiểu thì Refactoring là tái cấu trúc, tổ chức lại mã nguồn mà không làm thay đổi hành vi của nó. Bạn có thể hình dung, phần mềm của mình là 1 căn phòng ngủ, refactoring có nghĩa là trang trí, thay đổi vị trí của các đồ dùng trong phòng ngủ để nó đẹp hơn, thoải mái hơn nhưng bản chất nó vẫn là phòng ngủ chứ không phải là phòng khách hay phòng bếp.


+ Vậy tại sao bạn nên refactoring? 

- Nó giúp cải thiện cấu trúc thiết kế phần mềm của bạn.
- Giúp mã nguồn của bạn dễ hiểu hơn.
- Nó giúp bạn có thể tìm thấy nguyên nhân dẽ dàng hơn khi phần mềm của bạn dính lỗi.
- Ngoài ra nó giúp bạn viết phần mềm nhanh hơn.


+ Khi nào mình nên  refactoring ?

- Khi bạn cần thêm một funciton.
- Khi bạn cần sửa một lỗi xuất hiện trong phần mềm.
- Và khi bạn review lại mã nguồn.


+ Khi nào bạn không nên refactoring ?

- Khi mã nguồn của bạn phải làm việc hầu như là chính xác trước khi bạn refactoring. Nếu mã nguồn của bạn chưa hoạt động chính xác hoặc chưa chạy được. Bạn không nên refactoring.
- Khi phần mềm của bạn đã đến deadline.

+ Một số vấn đề với refactoring :
- Khi bạn làm việc với database: Khi phần mềm của bạn làm việc với db, nó đã có một quan hệ chặt chẽ với db. Việc sử dụng refactoring làm bạn phải thay đổi cấu trúc của DB.
- Thay đổi interface : khi bạn đã public interface của bạn, việc tái cấu trúc lại nó cũng là một vấn đề.
- Khi bạn thay đổi thiết kế, việc refactoring gặp rất nhiều khó khăn, hầu như bạn phải đập và viết lại mới.

+ Vậy mã nguồn như thế nào là mã nguồn chưa tốt, cần refactoring ? 

- Có rất nhiều cách nhận biết mã nguồn của bạn chưa tốt (bẩn hay "bóc mùi"), sau đây là một số cách nhận biết cơ bản :
      - Duplicated Code : code của bạn có sự trùng lặp, khi có một đoạn mã với chức năng giống hệt được viết tại 2 nơi khác nhau.
      - Long Method : phương thức của bạn quá dài - tính theo số dòng code.
      - Large Class : Khi class của bạn chứa các phương thức và thuộc tính của như một class khác. Lấy một ví dụ : bạn có một class làm việc với DB nhưng class đó lại chứa những phương thức cũng như thuộc tính của class hiển thị View cho người dùng.
      - Long Parameter List : Khi phương thức của bạn có quá nhiều tham số.
      - Primitive Obsession : Khi bạn dùng các kiểu nguyên thủy để đại diện cho thực thể. Ví dụ bạn có một danh sách người chơi, bạn dùng các 1 mảng các con số như 1, 2, 3 để đại diện cho các người chơi, như vậy bạn đã mắc lỗi này.
      - Switch Statements : Bạn nên cần thần khi làm việc với các câu lệnh switch. Bơi nó là nơi rất dẽ xuất hiện code "bẩn".

+ Hy vọng qua bài viết này bạn sẽ có cái nhìn khái quán về refactoring . Bài viết dựa trên slide của thầy Nguyễn Ngọc Tú .  Download slide tại : http://www.mediafire.com/?7s55au5tp3kwfch
   

Tuesday, December 1, 2015

[Java] Clone Object trong Java

Trong nhiều trường hợp ta muốn clone object ra một object tương ứng để giúp chúng ta thao tác trên object mà không làm ảnh hưởng đến object gốc.

Trong java việc này ra đơn giản. Để clone một object ta implement Cloneable như trong ví dụ sau.
public class Employee implements Cloneable {
private String EmployeeID;
private String FullName;
public Employee() {
}
public String getEmployeeID() {
return EmployeeID;
}
public void setEmployeeID(String employeeID) {
EmployeeID = employeeID;
}
public String getFullName() {
return FullName;
}
public void setFullName(String fullName) {
FullName = fullName;
}
@Override
protected Object clone() throws CloneNotSupportedException {
return super.clone();
}
}
Sử dụng như sau:
Employee employee = new Employee();
employee.setFullName("Đức");
try {
Employee employeeClone = (Employee) employee.clone();
employeeClone.setFullName("Đức cloned");
employee.getFullName(); // trả về Đức
employeeClone.getFullName(); // trả về Đức cloned
} catch (CloneNotSupportedException e) {
e.printStackTrace();
}
OK vậy ta đã tạo được object clone. Nhưng với các object phức tạo như chứa các list con, trong list con lại còn list con bé hơn nữa. Với các object phức tạp như thế này thì đòi hỏi các object con phải implements Cloneable và for để tạo ra các object clone. Sử dụng cách này rất mất công và tốn time (chưa xét hiệu năng).
Và cách mà em đưa ra là tận dụng thư viện GSon để clone object. Như ví dụ trên để tạo Object Clone em làm như sau:
Employee employee = new Employee();
employee.setFullNam
c");
Gson gson = ne
n();
String jsonObject = gson.toJson(e
ee);
Employee employeeCloned = gson.fromJson(jsonObject, Employe
ss);
employeeCloned.getFullName();
Với cách này ta sẽ được một Object cloned với toàn bộ các property một cách đơn giản và nhanh chóng.
Download thư viện gson tại https://github.com/google/gson